Câu chuyện cà phêLịch sử - Văn hóa

Câu chuyện từ phin cà phê Việt Nam

63

Sachiko Tomoyama, một hướng dẫn viên Nhật chuyên dẫn tour Việt cho các vị khách đồng hương chia sẻ rằng trước khi tiễn khách ra sân bay, cô thường dẫn khách ghé vào chợ Bình Tây để mua… phin cà phê.

Đó là món quà lưu niệm đặc trưng cho văn hóa và ẩm thực Việt Nam. Có lẽ qua nhiều thông tin du lịch, cà phê và cách thưởng thức cà phê Việt đã trở thành một ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách.

Ly cà phê “đen” đậm đà

Theo Sachiko, người Nhật không “hảo” cà phê, nhưng thưởng thức một ly cà phê đen đậm kiểu Việt Nam lại có điểm gì đó khá tương đồng với cách thức uống trà Nhật: cầu kỳ và nguyên chất!

Cà phê Việt thường được thưởng thức qua phin (gốc là từ fin (filtre) trong tiếng Pháp) – một sự du nhập văn hóa từ thời Pháp thuộc. Hạt cà phê được xay nhỏ, nén trong phin trước khi cho nước sôi vào.

Cà phê đen đậm, đặc sánh được chắt lọc từng giọt, từng giọt qua phin, xuống ly, như một cách để chiêm nghiệm cuộc sống thật chậm.

Thường thì để “hứng” được một tách cà phê đủ dùng, người uống phải kiên nhẫn ngồi chờ từ 10 đến 15 phút, rồi tùy theo “gu” mà cho đường, khuấy đều.

Câu chuyện từ phin cà phê - 2

Đó là cà phê đen nóng. Hoặc cũng có thể dùng một “ly nâu” – tiếng lóng để gọi cà phê pha với sữa đặc có đường.

Vị đắng đậm của cà phê được trung hòa bằng chất ngọt béo thơm của sữa đặc, cũng là một hương vị mà rất ít dòng cà phê nước ngoài (vốn được pha cùng sữa tươi) có được.

Ở Việt Nam, nếu buổi sáng bắt gặp một người thưởng thức một ly cà phê sữa đá mà không cần ăn sáng thì cũng chẳng có gì lạ.

Riêng ở miền Nam còn có món bạc xỉu (nói nôm na là sữa-cà phê), thích hợp cho nữ giới vì lượng sữa chiếm đến 2/3, ngọt ngào mà không nặng caffein. Một loại khác, phổ biến và đậm chất Việt hơn, là ly đen đá.

Câu chuyện từ phin cà phê - 5

Người uống sẽ rót cà phê từ tách nóng ấy sang một ly cao chứa đầy đá viên, khuấy thật đều. Chất sảng khoái đến từ cảm giác mát lạnh của đá viên, rất hợp lý trong thời tiết nóng ẩm của Việt Nam.

Cà phê đá vì vậy mà được ưa chuộng đến độ hiện diện trong thực đơn của những thương hiệu “cà phê nhà giàu” như Highland, Gloria Jeans… với tên gọi đặc biệt: cà phê kiểu Việt Nam!

Phong cách “ẩm” độc đáo của người Việt

Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu như người Âu thích cà phê nhẹ, chua nhiều thì người Việt lại thích cà phê đậm, đắng, thơm mùi hạt cà phê rang đến nức mũi.

Thực chất, cà phê Việt nếu nói về cách thức pha chế thì chưa hẳn đậm đặc bằng cà phê Thổ Nhĩ Kỳ.

Theo kiểu Thổ, cà phê được xay mịn, sau đó cho cùng với đường và nước vào một loại ấm mỏng hình chóp gọi là ibrik rồi đun lên.

Khi hỗn hợp sôi và lớp bọt dâng cao, người ta nhấc ibrik ra khỏi bếp, vẫn tiếp tục khuấy đều đếu khi cà phê nguội, rồi lại đun sôi liu riu.

Quy trình đó cứ lặp đi lặp lại ba lần cho đến lúc hỗn hợp cà phê đặc quánh, lớp bột lắng xuống đáy thành một lớp dày.

Câu chuyện từ phin cà phê - 4

Người Việt Nam không uống cà phê còn nguyên bột, nhưng bù lại, hương phải thơm đậm, vị phải đắng chát và điểm cả vị béo của bơ.

Ở Việt Nam, hai giống cà phê chính là Arabica và Robusta. Ngoài ra còn có một dòng Moka thuộc giống Bourbon đuộc trồng tương đối hạn chế tại Cầu Đất, Lâm Đồng.

Thường thì bí quyết tạo cà phê ngon tùy thuộc vào sự phối trộn các loại cà phê với nhau theo công thức riêng của từng nhà sản xuất. Kế đến là cách thức rang trên lửa với thời gian thích hợp.

Câu chuyện từ phin cà phê - 3

Người Việt thường thích độ đậm đà của cà phê rang hai lần, từ lần rang đầu đến lần sau chỉ cách nhau vài giây và kết thúc trước khi hạt im tiếng nổ lách tách (nếu không, cà phê sẽ khét).

Để tăng độ béo thơm, người chế biến có thể cho thêm bơ vào trong quá trình rang hạt. Nhưng ly cà phê muốn ngon thì phụ liệu chỉ được phép dừng ở đó!

Mọi sự tăng cường quá đà bằng những hóa chất để cà phê sóng sánh bọt, hương thơm ngào ngạt, béo ngậy… sẽ giết chết khẩu vị của người thưởng thức.

Cà phê đã trở thành một loại thức uống tinh tế (và tinh túy) của ẩm thực Việt. Sự du nhập của hàng loạt phong cách cà phê Ý, Pháp, Đức, Hà Lan, Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa bao giờ khiến ly “đen” mất đi vị thế của mình.

Nhưng có lẽ đã đến lúc cần quan tâm hơn đến việc “xuất khẩu” cả phong cách cà phê Việt ra thị trường thế giới, hơn là để những chiếc phin cà phê độc đáo chỉ được biết đến như những món quà du lịch.

Câu chuyện từ phin cà phê - 6

Trong khuôn khổ Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột lần thứ 3 (diễn ra từ ngày 10 đến 15/3/2011), người tham dự có đã có dịp nhìn ngắm chiếc phin pha cà phê lập kỷ lục “lớn nhất Việt Nam”. Chiếc phin có đường kính 2m, cao 5m và dự kiến mỗi lần pha sẽ đủ cho khoảng 300 khách thưởng thức. Đây được xem như một biểu tượng cho phong cách cà phê Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới.

Kiến thứcLịch sử - Văn hóa

Sự quyến rũ của vùng nguyên liệu cà phê nơi cao nhất thế giới

62

Vùng Caribbean được ví như lãnh địa thứ hai của ngành công nghiệp cà phê tại châu Mỹ, sau Brazil. Với khí hậu, thổ nhưỡng tuyệt vời, nơi đây đã sản sinh ra một loại cà phê tuyệt hảo bậc nhất thế giới – Cà phê Jamaica.

Hạt cà phê định hình lịch sử trên vùng đất Jamaica

Cà phê được đưa tới quốc đảo Jamaica vào thế kỷ 18 nhờ một vị vua nước Pháp. Năm 1723, vua Louis XV gửi ba cây cà phê đến thuộc địa của Pháp bấy giờ là Martinique – hòn đảo màu mỡ, tươi tốt cách Jamaica 1.900km về phía Tây Nam. Đến năm 1728, Ngài Nicholas Lawes, Thống đốc Jamaica, đã nhận được tám cây cà phê từ Thống đốc Martinique như quà tặng ngoại giao. Từ đây lịch sử cây cà phê trên vùng đất Jamaica bắt đầu hình thành.

Cây cà phê đầu tiên trên đảo được trồng tại giáo xứ St. Andrew, sau đó nhanh chóng mở rộng tới dãy Blue Mountain hùng vĩ gồm các ngọn đồi St. Ann, Manchester và St. Elizabeth. Sự hoà hợp đáng kinh ngạc giữa vùng đất núi lửa màu mỡ với khí hậu mát mẻ, mây mù và lượng mưa cao tại Jamaica đã tạo điều kiện lý tưởng cho cây cà phê Arabica sinh trưởng và phát triển. Sau 9 năm kể từ khi cây cà phê đầu tiên được ươm mầm, Jamaica đã bắt đầu xuất khẩu và mở ra ngành công nghiệp cà phê.

Đầu thế kỷ 19, có hơn 600 đồn điền cà phê được thành lập tại Jamaica, đưa quốc đảo này trở thành vùng nguyên liệu cà phê lớn nhất thế giới những năm 1800-1840 với sản lượng lên đến 70.000 tấn mỗi năm. Sau năm 1840, nhiều đồn điền cà phê phải đối diện với nguy cơ đóng cửa do làn sóng nguồn nhân lực trong ngành cà phê chuyển hướng sang canh tác cây lương thực.

Mặc dù vậy, nhờ sự can thiệp của chính phủ ngành công nghiệp cà phê tại Jamaica đã hồi sinh một cách thần kỳ. Luật canh tác cùng các hướng dẫn trồng cà phê được áp dụng từ năm 1890 đã giúp ngành cà phê tại Jamaica đi vào quy hoạch một cách chuyên nghiệp hơn. Sau gần 250 năm định hình và phát triển, ngày nay, danh tiếng hạt cà phê thơm ngon đầy quyến rũ từ vùng đất Jamaica đã lan toả khắp thế giới, chinh phục những vị khách khó tính nhất.

ngành công nghiệp cà phê tại Jamaica

Cà phê Blue Mountain – Niềm tự hào của người dân Jamaica

Cà phê Blue Mountain được trồng trên dãy núi Blue Mountain, nơi mệnh danh là nóc nhà cao nhất quần đảo Caribbean với độ cao 2.256 mét. Đây đồng thời là vùng canh tác cà phê cao nhất thế giới. Trải qua thời gian, chất dinh dưỡng lắng đọng trên bề mặt của những ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động này chính là dưỡng chất thiên nhiên tuyệt vời cho cây cà phê sinh trưởng và phát triển. Cùng với đó, dãy núi Blue Mountain có lớp sương mù che phủ dày đặc quanh năm và nhiệt độ thấp. Điều này khiến cây cà phê tăng trưởng chậm và mất đến 10 tháng mới có thể thu hoạch nhưng lại tạo ra hương vị thơm ngon vô cùng độc đáo.

Đối với người Jamaica, dãy núi Blue Mountain giống như sự ưu ái của thiên nhiên ban tặng. Chính sự kỳ diệu của tạo hóa đã đem tới hương vị cà phê Jamaica đặc biệt hơn bất cứ đất nước nào. Người Jamaica luôn tự hào rằng chính họ là những người trực tiếp sản xuất ra hạt cà phê Blue Mountain vang danh thế giới. Sự miệt mài, chăm chỉ và tâm huyết là những phẩm tính dễ thấy ở người nông dân canh tác cà phê tại đây. Ở vùng đất này, cà phê được giữ nguyên phương pháp canh tác truyền thống, thu hoạch bằng tay và đóng vào các thùng gỗ như hồi thế kỷ 18. Sự cầu kỳ tâm huyết này đã góp phần hoàn thiện hương vị của cà phê Jamaica.

Trải qua nhiều thập kỷ, cà phê Jamaica đã có mặt trên khắp thế giới. Cà phê vùng Blue Mountain còn vinh dự được chọn là thức uống phục vụ tại Nhà Trắng và được biết đến là thức uống yêu thích của Nữ hoàng Anh.

Jamaica – sự quyến rũ của vùng nguyên liệu cà phê nơi cao nhất thế giới - Hình 4

Năm 1953, Jamaica thành lập Hội đồng Công nghiệp Cà phê nhằm duy trì và tiêu chuẩn hoá chất lượng cà phê Blue Mountain theo chuẩn quốc tế. Hạt cà phê được lựa chọn cẩn trọng, và giám sát từ giai đoạn nghiền, sấy khô, tách vỏ cho đến phân loại. Để được xuất khẩu, tất cả các lô cà phê được kiểm định và phê duyệt bởi Ủy ban Công nghiệp Cà phê Jamaica. Nhờ sự can thiệp của Chính phủ, cà phê Blue Mountain luôn giữ được chất lượng tuyệt hảo và được bảo hộ toàn cầu về nhãn hiệu. Vậy nên, dù diện tích sản xuất ít, sản lượng nhỏ, cà phê Blue Mountain nói riêng và Jamaica nói chung vẫn luôn đạt giá trị cao trong thị trường cà phê rộng lớn.

Có thể nói, ngành công nghiệp cà phê ở Jamaica sinh ra và tồn tại như một định chế tất yếu nhờ sự ưu đãi tuyệt vời của thổ nhưỡng và khí hậu nơi đây. Jamaica có thể không bao giờ đạt được vị trí sản xuất cà phê lớn nhất toàn cầu như trong quá khứ, thế nhưng, với hương thơm quyến rũ đặc trưng, cà phê Blue Mountain vẫn luôn khiến những người yêu cà phê phải mê đắm khi được thưởng thức.

Không chỉ tuyển chọn những hạt cà phê tuyệt hảo nhất từ cường quốc cà phê Việt Nam, Jamaica, các chuyên gia cà phê Trung Nguyên Legend còn tuyển chọn cả những hạt cà phê hảo hạng đến từ các vùng nguyên liệu nổi tiếng nhất thế giới như: Brazil, Ethiopia, Colombia; kết hợp công nghệ hiện đại nhất và bí quyết huyền bí phương Đông để sáng tạo nên những tuyệt phẩm cà phê Khác biệt và Đặc biệt, xứng đáng là một thần dược cho não, biệt dược cho sáng tạo. Thưởng thức những tuyệt phẩm cà phê năng lượng, đọc những cuốn sách thuộc Tủ sách Nền tảng đổi đời do chính Chủ Tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ tâm huyết tuyển chọn và luận bàn về những ý tưởng lớn, những thao thức của thời đại… sẽ giúp cho mỗi cá nhân có được sức mạnh của tri thức, từ đó chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, sức mạnh thể chất, sức mạnh tinh thần để đi đến giàu có và hạnh phúc đích thực.

Nguồn: Trung Nguyên Legend

Lịch sử - Văn hóa

Hàng quán cà phê – những học viện tỉnh thức

37

Người Nhật đã định hình Trà đạo thành đạo lý của dân tộc, một nghệ thuật sống được truyền tải qua việc thưởng lãm một tách trà. Trong khi đó, Việt Nam – một cường quốc cà phê nhất nhì thế giới, có hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới, có một bề dày lịch sử văn hóa thưởng lãm cà phê hàng trăm năm, nhưng đến nay, giá trị cà phê Việt Nam vẫn thuộc phân khúc thấp, chủ yếu xuất thô và chưa được định hình đúng vị thế vốn có của ngành, của quốc gia.Với mong muốn đưa ngành cà phê Việt Nam lên một tầm cao mới, nâng cao giá trị cà phê không chỉ là một thức uống thông thường mà còn ở tầm mức cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật, cà phê tinh thần… đến cà phê triết đạo, xứng đáng với vị thế của cường quốc cà phê của thế giới – Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã dành thời gian và tâm huyết trong nhiều năm để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… của cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống nhân loại để cà phê trở thành “Cà Phê Triết Đạo”.

Trong suốt hành trình sáng tạo và phát triển của Trung Nguyên Legend thì tinh thần dấn thân phụng sự cộng đồng luôn là hạt nhân xuyên suốt bằng nhiều chương trình hành động để Kiến tạo khát vọng lớn, Chí hướng lớn cho quốc gia; để xây dựng vị thế mới cho ngành cà phê Việt Nam trên bản đồ cà phê thế giới và trên Hành trình này, Trung Nguyên Legend mong muốn cùng chung tay với các nhà hoạch định sách lược quốc gia để Việt Nam sớm trở thành quốc gia hùng mạnh và ảnh hưởng toàn diện thế giới!

Người Nhật đã làm được!
Người Việt mình cũng làm được và làm tốt hơn!

 

Không gian tạo tác văn hóa và kiến thức

Giữa thế kỷ 16, khi cà phê đã là thức uống thiết yếu trong đời sống xã hội Ottoman, hai thương gia người Hồi giáo đã mở quán cà phê đầu tiên tại thủ đô Constantinople. Kể từ đó, quán cà phê đóng vai trò là chốn quy tụ và lan tỏa văn minh cà phê, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống nhân sinh.

Không phải ngẫu nhiên mà quán cà phê đầu tiên được hình thành tại Constantinople. Constantinople là điểm gặp gỡ giữa Đông và Tây, Á và Âu – vùng đất mà các đế chế cổ đại đều khao khát có được. Constantinople từng là kinh đô của đế chế La Mã, đế chế Byzantine và đến giữa thế kỷ 15 thì thuộc đế chế Ottoman. Với lịch sử trải dài qua nhiều đế chế như vậy, Constantinople là thành phố cực kỳ đa dạng về sắc tộc, tôn giáo, văn hóa. Chưa kể thương nhân các quốc gia đổ về phát triển rất nhiều ngành nghề kinh tế.

Giai đoạn này, không gian công cộng chỉ có nhà thờ, nhà tắm, các quán rượu. Cả ba đều có sự hạn chế nhất định trong việc kết nối con người với nhau, bởi nó không phá vỡ được các khác biệt về đức tin, giai cấp, sắc tộc… Dù cùng tồn tại trong một đế chế Ottoman nhưng người Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Do Thái, Zoroastrian xem mình là thành viên của các cộng đồng riêng biệt, sống theo các chuẩn mực khác nhau. Nếu như nhà thờ là nơi tu hành riêng của các tôn giáo, nhà tắm phân chia đẳng cấp địa vị và quán rượu bị người Hồi giáo xem là nơi cấm kị thì sự xuất hiện của quán cà phê đã thiết lập không gian trải nghiệm “văn minh giao tiếp” hoàn toàn khác biệt.

Quán cà phê thời kỳ đầu là không gian lớn có tường và trần làm bằng đồng chạm trổ hoa văn phức tạp. Những băng ghế đơn cho khách ngồi bao quanh đài phun nước giữa phòng. Mục đích của quán cà phê là khuyến khích những người lạ ngồi gần nhau. Vì vậy, quán cà phê tạo nên một thiết chế xã hội chưa từng có, ở đó các cá nhân thuộc mọi tôn giáo, mọi tầng lớp, mọi ngành nghề, cả biết chữ lẫn không biết chữ… hợp nhất trong một không gian, trò chuyện và cùng nỗ lực khai phá trí tuệ vô hạn.

Khởi nguyên, những cuộc trò chuyện được dẫn dắt bởi những bậc tinh hoa, những người có hiểu biết sâu rộng, do đó quán cà phê Ottoman sớm định hình như một trung tâm giáo dục công cộng (halk eğitim merkezleri), trường học tri thức (mekteb-i ‘irfan) hay phòng đọc sách (okuma evi) cung cấp và phổ biến các ý tưởng. Ngồi uống tách cà phê, các học giả chia sẻ tác phẩm mới, bậc nghệ nhân trình diễn tài nghệ, các thương gia tìm kiếm cơ hội kinh doanh, một số khác đến đọc sách, hoặc đơn giản là chơi backgammon – và tự hào vì đây là trò chơi đầy tính trí tuệ.

Tinh thần học hỏi và sáng tạo được đánh thức, các hoạt động văn học nghệ thuật phát triển nhanh chóng. Kể từ khi có cà phê và quán cà phê trong xã hội Ottoman, một số khái niệm, thành ngữ, tục ngữ mới đã xuất hiện. Vô số bài thơ dân gian, ca dao, văn vần, giai thoại được sáng tác và phổ biến trong quán cà phê. Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo từ xúc cảm khi thưởng thức cà phê và trưng bày tại quán cà phê. Quán cà phê cũng là sân khấu biểu diễn nhạc kịch, nghệ thuật Karagöz (múa rối bóng) và meddah (kể chuyện)…

Trong giai đoạn cực thịnh, hàng quán cà phê trải dài khắp đế chế Ottoman, đến tận các ngôi làng xa xôi. Loại hình quán cà phê cũng đa dạng chức năng như: quán cà phê trong nhà, quán cà phê ngoài trời, quán cà phê bờ biển, quán cà phê đồng quê, quán cà phê mùa hè, quán cà phê di động… quy tụ công dân toàn xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục, kinh tế và nghệ thuật.

Với tư cách là không gian văn hóa, không gian đánh thức khao khát truy cầu tri thức đã làm cho quán cà phê về cơ bản trở thành một trong những trung tâm trí tuệ của đế chế Ottoman, có vai trò quan trọng trong quá trình thay đổi của đời sống văn hóa Ottoman.

Không gian thức tỉnh khát vọng truy cầu và sẻ chia chân lý

Quán cà phê hiện diện khắp Châu Âu từ giữa thế kỷ 17, là giai đoạn hệ tư tưởng và chuẩn mực xã hội Châu Âu thay đổi siêu vượt, còn được gọi là thời kỳ Khai sáng.

Hàng quán cà phê đã có sự can dự trong cột mốc lịch sử làm thay đổi vĩnh viễn và tích cực đến tiến trình phát triển của nhân loại. Đây là thời đại của lý trí, thời đại của những cuộc tranh luận tự do, cởi mở và bao trùm nhiều mặt vấn đề xã hội. Trong cái nao nức của niềm tin vô bờ bến về khả năng và trí tuệ con người, hàng quán cà phê đã hóa thành diễn ngôn của tất cả những khao khát dấn thân cho tiền đồ chung của nhân loại.

Năm 1645, quán cà phê đầu tiên được mở tại Venice, sau đó là ở Oxford (năm 1650), London (năm 1652), Paris (năm 1672) và Hamburg (năm 1679). Hàng quán cà phê trở thành trung tâm tinh thần của kỷ nguyên Khai sáng, phổ biến lý tưởng, kiến thức đến toàn xã hội thông qua các hoạt động trí tuệ độc đáo.

Vai trò của cà phê được nhà sử học người Pháp – Jules Michelet (1798 – 1874) đánh giá là “thần dược cho trí tuệ minh mẫn – elixir of mental clarity”. Cà phê cung cấp năng lượng và sự tỉnh táo cần thiết để những con người mang khát vọng thời đại tư duy sáng suốt và làm việc hăng say nhiều giờ. Chính vì thế, quán cà phê hội tụ những đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Khai sáng khắp Châu Âu như: Immanuel Kant, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Denis Diderot, d’Alembert, Isaac Newton, Hans Sloane, Edmund Halley,… Họ đã thảo luận và viết nên những công trình nghiên cứu vang danh, ảnh hưởng triệt để trên tất cả các lĩnh vực, định hình lại hiểu biết về thế giới và về nhân sinh.

Châu Âu đã vươn lên bằng sức mạnh tri thức, và ánh sáng tri thức đó bàng bạc chiếu rọi trong các không gian cà phê. Quán cà phê không chỉ là nơi thảo luận mà còn đào luyện trí tuệ cũng như trau dồi đức hạnh thông qua các bản tin, báo chí, sách. Đây là nền tảng cho các cá nhân khơi thông năng lực phản tư về chính mình và thế giới xung quanh, dũng cảm vượt qua mọi rào cản để sử dụng lý trí tạo dựng cuộc sống mới. Đồng thời, những nhà tư tưởng vĩ đại không còn suy nghĩ một mình mà có thể mang ý tưởng ra cùng tham luận. Sự tập hợp trí tuệ này là động lực của những sáng tạo tiến bộ vượt bậc trong chính trị, triết học, khoa học, kinh tế, văn hóa… dẫn đến sự phát triển lớn về hệ tư tưởng xã hội, hình thành nên văn minh phương Tây hiện đại như chúng ta thấy hôm nay.

Hàng quán cà phê mang hình ảnh biểu trưng của tiến bộ văn minh, bởi một lẽ chỉ ở quán cà phê con người mới đủ sức mạnh để dám nói lên những hoài vọng, những khát khao đời mình và đủ tỉnh thức để lắng nghe người khác. Từ đó mà quán triệt thấu đáo vai trò của mình đối với xã hội và lịch sử để sống cho nhau, sống vì nhân sinh hạnh phúc.

Từ khi sáng nghiệp đến nay, Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã nỗ lực hoàn thiện hệ sinh thái cà phê toàn diện: Cà phê vật chất – Cà phê tinh thần – Cà phê xã hội hướng đến cung ứng một lối sống mới – Lối sống Minh Triết, đem đến giàu có và hạnh phúc đích thực cho cộng đồng nhân sinh. Một trong những nỗ lực đó là định hình các không gian hàng quán cà phê khơi nguồn sáng tạo – nơi hội tụ những tâm hồn lớn.

Trong mỗi không gian Trung Nguyên Legend Café, Trung Nguyên E-Coffee, Không gian Sáng Tạo, Cà phê Thứ Bảy, Bảo tàng Thế Giới Cà Phê, Làng cà phê Trung Nguyên, bên những ly cà phê năng lượng sáng tạo, người yêu cà phê còn có thể thấu đạt sức mạnh tri thức từ những cuốn sách quý trong Tủ sách Nền Tảng Đổi Đời do Nhà sáng lập – Chủ tịch Tập đoàn Trung Nguyên Legend Đặng Lê Nguyên Vũ tâm huyết tuyển chọn từ hàng triệu cuốn sách, hàng ngàn tấm gương danh vĩ nhân thành công của nhân loại, giúp mỗi cá nhân thay đổi tư duy, hun đúc khát vọng lớn, rút ngắn con đường đạt đến thành công và hạnh phúc đích thực.

.Nguồn: Trung Nguyên Legend

Lịch sử - Văn hóa

Cà phê trong tiến trình thăng hoa âm nhạc của Johann Sebastian Bach

45

Người Nhật đã định hình Trà đạo thành đạo lý của dân tộc, một nghệ thuật sống được truyền tải qua việc thưởng lãm một tách trà. Trong khi đó, Việt Nam – một cường quốc cà phê nhất nhì thế giới, có hạt cà phê Robusta ngon nhất thế giới, có một bề dày lịch sử văn hóa thưởng lãm cà phê hàng trăm năm, nhưng đến nay, giá trị cà phê Việt Nam vẫn thuộc phân khúc thấp, chủ yếu xuất thô và chưa được định hình đúng vị thế vốn có của ngành, của quốc gia.

Với mong muốn đưa ngành cà phê Việt Nam lên một tầm cao mới, nâng cao giá trị cà phê không chỉ là một thức uống thông thường mà còn ở tầm mức cà phê văn hóa, cà phê nghệ thuật, cà phê tinh thần… đến cà phê triết đạo, xứng đáng với vị thế của cường quốc cà phê của thế giới – Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã dành thời gian và tâm huyết trong nhiều năm để nghiên cứu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật… cà phê trong mọi lĩnh vực đời sống của nhân loại để cà phê trở thành “Cà Phê Triết Đạo”.

Trong suốt hành trình sáng tạo và phát triển của Trung Nguyên Legend thì tinh thần dấn thân phụng sự cộng đồng luôn là hạt nhân xuyên suốt bằng nhiều chương trình hành động để Kiến tạo khát vọng lớn, Chí hướng lớn cho quốc gia; để xây dựng vị thế mới cho ngành cà phê Việt Nam trên bản đồ cà phê thế giới và trên Hành trình này, Trung Nguyên Legend mong muốn cùng chung tay với các nhà hoạch định sách lược quốc gia để Việt Nam sớm trở thành quốc gia hùng mạnh và ảnh hưởng toàn diện thế giới!

Người Nhật đã làm được!
Người Việt mình cũng làm được và làm tốt hơn!

Cà phê đến châu Âu mang theo năng lượng tỉnh thức, tác động mạnh mẽ đến khả năng sáng tạo vô hạn cho các nhà soạn nhạc thời kỳ này với một lượng lớn tác phẩm âm nhạc kinh điển đã ra đời.

Cà phê – Nguồn năng lượng thăng hoa sáng tạo nghệ thuật

Khi du nhập vào châu Âu, mặc dù có nhiều sự nghi hoặc ban đầu về tác dụng của caffeine nhưng ngay sau đó, cà phê nhanh chóng trở thành thức uống được ưa chuộng, thậm chí còn được ví như thần dược cho sáng tạo gắn kết chặt chẽ với tiến trình “bùng nổ văn hóa tư tưởng của xã hội châu Âu thời kỳ cận đại. Những năm 1700, thưởng lãm cà phê chính thức trở thành một phần văn hóa xã hội châu Âu. Những hàng quán cà phê được giới nghệ sỹ, nhà văn, chính trị gia, quý tộc lui tới thường xuyên để luận bàn các vấn đề thế sự và tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa tư tưởng.

Theo đó, cà phê và hàng quán cà phê đã trở thành nguồn năng lượng khơi dậy cảm hứng sáng tạo cho những nhà soạn nhạc vĩ đại. Không phải ngẫu nhiên mà thời đại sáng tạo nghệ thuật lại hưng thịnh ngay khi “thức uống kỳ diệu” cà phê được mang đến châu Âu. Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong đời sống âm nhạc châu Âu bấy giờ là hiệu suất sáng tác đáng kinh ngạc của các nhà soạn nhạc khi một lượng lớn các tác phẩm được ra đời bởi Antonio Vivaldi, Georg Phillip Telemann, Johann Sebastian Bach, Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven…. Trong đó, các nhạc phẩm đều phản ánh tâm thế tràn đầy năng lượng, lạc quan và yêu thương.

Hàng quán cà phê trở thành xã hội âm nhạc thu nhỏ quy tụ các nghệ sỹ tới tổ chức các buổi hòa nhạc, biểu diễn. Tại đây, cà phê và âm nhạc dường như hòa quyện làm một ở tình yêu, niềm đam của người nghệ sỹ, lan tỏa trong không gian gắn kết cộng đồng những người yêu âm nhạc. Quán Zimmermann Café ở Leipzig đã diễn ra những buổi hòa nhạc và thảo luận nhạc lý thường xuyên của Collegium Musicum – một dàn nhạc với các thành viên phần lớn là sinh viên đại học do Georg Philipp Telemann (1681-1767) thành lập năm 1702 và được Johann Sebastian Bach (1685 – 1750) tiếp quản vào năm 1729.

Những phát kiến thể loại thanh nhạc và khí nhạc mới của Collegium Musicum đã tạo ra phong cách âm nhạc hoàn toàn mới, vinh thăng âm nhạc hậu Baroque. Nhiều nhà soạn nhạc tập trung phát triển, biểu diễn các thể loại thanh nhạc mới như opera, cantata và oratorio trong đó có sự kết hợp của âm nhạc, diễn xướng, cảnh trí, phục trang và đạo cụ. Cũng trong thời kỳ này, phong cách sáng tác của các nhà soạn nhạc đổi mới, thoát khỏi ràng buộc thời trung cổ về âm vực, nhịp điệu, hoà âm, hình thức và ký âm, để âm nhạc bộc lộ “tiếng lòng con người” và có thể khơi dậy cảm xúc của người nghe.

Thế kỷ 18, hệ thống các hòa âm gọi là “điệu thức” thống trị âm nhạc. Và Johann Sebastian Bach chính là đại diện tiêu biểu trong việc làm chủ những quy tắc bắt buộc phức tạp về “điệu thức”, đưa âm nhạc cuối thời kỳ Baroque” (1600 – 1750) đạt đến đỉnh cao.

 “Cantata Cà phê” – Bản tình ca đặc biệt Johann Sebastian Bach dành cho cà phê 

Được biết đến là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại, Johann Sebastian Bach đồng thời là một tín đồ yêu thích cà phê nổi tiếng. Người dân thành phố Leipzig thời đó ai cũng biết đến thói quen ghé quán cà phê Zimmermann Café ít nhất hai lần một tuần của Johann Sebastian Bach. Ông không ngần ngại bộc lộ niềm yêu thích đặc biệt đối với thức uống này trong chính tác phẩm của mình – bản “Catana Cà phê”. “Catana Cà phê” là một trong những tác phẩm ngoại lệ hiếm hoi của ông phản ánh đời sống thế tục bên cạnh đề tài chủ yếu mà ông sáng tác là nhà thờ. Vở kịch nói xây dựng với cốt truyện về người con gái phải lựa chọn giữa cà phê hay vị hôn phu bằng lời ca hài hước, âm nhạc tuyệt diệu tựa trên thiên đường. Johann Sebastian Bach đã dành những lời mỹ miều cho thức uống này như: “Vị cà phê mới ngon làm sao, còn ngọt ngào hơn cả hàng ngàn nụ hôn, dịu êm hơn cả rượu nho đen!”

Với vai trò là giám đốc của dàn nhạc Collegium Musicum, Johann Sebastian Bach còn tích cực tổ chức các buổi hòa nhạc công cộng tại Zimmermann Café cho những người yêu âm nhạc ở thành phố Leipzig. Bên cạnh một lượng lớn các tác phẩm để lại cho hậu thế, người ta ước tính số lượng buổi hòa nhạc công cộng mà Johann Sebastian Bach từng tham gia tại quán Zimmermann Café lên đến hơn 600 buổi. Những tác phẩm kinh điển của ông được sáng tác cho các buổi biểu diễn tại Zimmermann Café phải kể đến như: “Catana Cà phê – BWV 211”, “Giải đấu giữa Phoebus và Pan – BWV 201”, “Catana của nông dân – BWV 212”,…

Cùng với sự phát triển xã hội cà phê tại châu Âu, lịch sử âm nhạc cận đại cũng đã chuyển tiếp sang một chương mới. Thức uống kỳ diệu này mang đến năng lượng sáng tạo phi thường cho Johann Sebastian Bach cùng nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại đương thời, đưa âm nhạc đạt đến tính sáng tạo thuần khiết, cách tân phong cách âm nhạc với sự ra đời của những bản concerto, sonata và opera có giá trị chuẩn mực trường tồn.